View Full Version: B́nh giảng văn học

..:: THPT BDA ::.. > -._= Lư Luận Văn Học & Một Số Kiến Thức Cơ Bản > B́nh giảng văn học


Title: B́nh giảng văn học


zachkhon - November 5, 2007 01:21 PM (GMT)
I. B́nh Giảng Văn học

1. Khái niệm

B́nh giảng cũng là một kiểu bài phân tích văn học nhưng là kiểu bài phân tích đặc biệt. Người viết cảm thụ văn chương riêng của ḿnh, vừa phân tích giảng giải, vừa b́nh cái hay, cái đẹp của thơ văn để cho người đọc cùng tán thưởng về tư tưởng và nghệ thuật của một đoạn văn, đoạn thơ hay một tác phẩm trọn vẹn. Trong nhà trường, những đề văn b́nh giảng thường chỉ hướng về một đoạn thơ hay, một đoạn văn hay, một bài thơ ngắn đặc sắc. Thơ văn không hay, hoặc ít có giá trị tư tưởng nghệ thuật th́ không thể b́nh giảng được. Đă có những đề văn b́nh giảng sau:

- B́nh giảng bài “B́nh Ngô đại cáo” của Nguyễn Trăi.

- B́nh giảng bài thơ “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị.

Theo ư chúng tôi là, tuy không sai, nhưng với những bài dài như thế, nên đưa về phân tích văn học.

2. Phân biệt giữa phân tích văn học và b́nh giảng

- Phân tích tác phẩm văn học là từ sự phân tích đặc điểm tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật để làm sáng tỏ giá trị của tác phẩm, hoặc làm sáng tỏ một vấn đề, một khía cạnh của tác phẩm.

* Ví dụ:

+ Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng mục đích đi tới là làm sáng tỏ và đánh giá – giá trị của tác phẩm.

+ Phân tích vẻ đẹp lăng mạn của truyện “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu – cái đích của bài văn là làm sáng tỏ một khía cạnh của tác phẩm.

+ Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mỵ để cho thấy giá trị nhân đạo của truyện “Vợ chồng A Phủ” – cái đích đi tới là làm sáng tỏ một vấn đề của tác phẩm.

- B́nh giảng là từ việc giảng và b́nh các chi tiết ngôn ngữ nghệ thuật, tư tưởng t́nh cảm chứa trong tác phẩm hay một phần của tác phẩm, làm rơ cái hay, cái đẹp của văn chương.

- Phân tích văn học và b́nh giảng đều phải sử dụng các thao tác sau: phân tích, giảng giải – trích dẫn, so sánh đối chiếu, liên tưởng mở rộng, b́nh, đánh giá. Tuy nhiên mức độ, sắc thái có chỗ hơi khác nhau.

+ B́nh giảng: yếu tố b́nh phải sắc, đậm hơn.

+ B́nh giảng: đ̣i hỏi người viết phải phân tích, giảng giải kỹ hơn, sâu hơn các chi tiết. Có những đề văn chỉ có hai câu thơ, nên người viết phải biết sử dụng các thao tác trên tinh thần “chẻ sợi tóc làm tư” mới có thể làm nên một bài văn 4,5 trang.

* Ví dụ:

B́nh giảng hai câu thơ sau:

“Ôi những cánh đồng quê chảy máu,

Dây thép gai đâm nát trời chiều”.

(“Đất nước” - Nguyễn Đ́nh Đinh Thi)

(Đề thi vào trường Đại học Luật năm 1997)

- Để viết hay đề văn b́nh giảng này trong một thời gian nhất định khoảng 100-120 phút trong pḥng thi căng thằng, hồi hộp đâu dễ?

+ Nói chung giọng văn, chất văn của hai kiểu bài phân tích văn học và

giảng phải lưu loát, uyển chuyển, mượt mà, giàu cảm xúc. Vốn dĩ câu thơ, câu văn trong đề bài b́nh giảng đưa ra đă hay, rất hay, rất đẹp, do đó người viết cũng phải diễn đạt bằng những lời văn, câu văn giàu h́nh ảnh, biểu cảm mới tương xứng.

Các tiêu chí trên đây chỉ là sự khu biệt tương đối. Các bài văn mẫu hiện nay, xét cho cùng, các bài b́nh giảng cũng không khác ǵ bài phân tích; đặc biệt chất văn, giọng văn chưa được “bay” thậm chí yếu tố b́nh (khen, chê) chưa có, chưa rơ.

Theo ư chúng tôi, dối với những bài ca dao ngắn, bài tứ tuyệt hoặc bát cú Đường luật th́ phân tích hay b́nh giảng đều có thể viết giống nhau, tương tự nhau.

* Ví dụ:

+ B́nh giảng bài ca dao “Bài ca chàng thợ mộc”

+ B́nh giảng bài thơ “Mộ” (Chiều tối) của Hồ Chí Minh.

+ Phân tích bài thơ “Canh cá tràu” của Chế Lan Viên.

3. Phương pháp làm bài cụ thể:

- Cắt ngang để b́nh giảng từng chi tiết, từng bộ phận, từng phần một.

- Giảng trước, b́nh sau ở mỗi chi tiết, bộ phận, từng phần.

- Phải bám vào ngôn ngữ, h́nh ảnh… để giảng. Và trên cơ sở đó để b́nh.

- Cần có kiến thức lư luận văn học và thuộc nhiều thơ văn để so sánh đối chiếu, liên tưởng mở rộng khi giảng và b́nh, không thể khen, chê một cách vu vơ, tuỳ tiện.

- Bố cục dàn ư một bài b́nh giảng cũng giống như bài phân tích văn học.

Minh họa về b́nh giảng

a/ “… Chúng ta đă nói đến sự tương xứng thắt chặt lại, là đối; nhưng phải nghĩ đến sự tương xứng mở rộng ra, nó là cái lẽ lớn chi phối cả thơ và các nghệ thuật khác.

Chính Phạm Thái đă có một câu thơ rất hay, khi nh́n phong cảnh đất Kim Sơn:

“Mành rủ liễu, tán dương tùng,

Trúc khua vách đá, lan lồng áo tiên”.

Câu lục bát chia làm 4 đoạn, mỗi đoạn đều là một động tác, với một động từ trong lúc liễu rủ mành của nó xuống, th́ tùng dương tán của nó lên, trong khi đó th́ âm nhạc là: trúc khẽ chạm vào vách đá, khua, và các hoa lan trăm đoá nở ra, như đang lồng áo liên vào ḿnh; đây không những là “trong thơ có tranh”, mà c̣n có cả vũ khúc, một điệu múa; tất cả là một sự tương xứng rất đẹp”.

Xuân Diệu (“Sự tương xứng trong ngôn từ thơ”)

b/ Phong cách dân tộc ở Tố Hữu thể hiện ở chỗ thơ anh giàu chất nhạc, anh nắm rất vững cái âm điệu, vần điệu của dân tộc. Tố Hữu không những suy nghĩ qua âm nhạc, trong âm nhạc, mà anh c̣n suy nghĩ bằng âm nhạc nữa:

“Ai về Hưng Hóa

Ai xuống Khu Ba

Ai vào Khu Bốn

Đường ta đó, tự do cuồn cuộn

Bốt đồn Tây đă cuốn sạch rồi!...”

Phân tích theo cái lối h́nh thức, th́ cả đoạn này, chỉ là những tên địa danh kèm theo ở đầu chữ Ai. Nhưng hăy đọc to lên, hăy để cho hồn thơ, nhạc điệu lôi cuốn ta đi, ta sẽ thấy rằng nhạc điệu ở đây đă tạo cho ta một t́nh cảm rất sâu: đó là ḷng yêu đắm say đất nước, yêu như tát măi không cạn, gọi măi không cùng, yêu như muốn nêu tên lên măi mà gọi, chỉ một cái tên thôi cũng đủ chấn động ḷng rôi. Mỗi tiếng “Ai” kia nhu đào sâu thêm t́nh yêu đó.

Rất nhiều lúc tác giả dùng lối gọi tên như vậy: “Tháng Tám vùng lên Huế của ta - Quảng Phong ơi, Hương Thuỷ, Hương Trà”, “Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố! Nhớ nhau chăng, hỡi Hanh Cát, Hanh Cụ?”… Cho cả đến những lần chỉ có tên là tên:

“Po Tào, Mường Khủa, Mường Thanh,

Mường La, Hát Lót, chân anh đă từng”.

Và lần nào tác giả cũng thành công - Chỉ v́ sau cái nhạc điệu dân tộc, anh đă biết để một quả tim dân tộc, sau âm thanh là có cả tâm hồn.

Thơ là đi giữa Nhạc và ư. Rời vào cái vực ư, th́ thơ sẽ sâu, nhưng rất dễ hô khan. Rời vào cái vực Nhạc, th́ thơ dễ làm đắm say người, nhưng cũng dễ nông cạn. Tố Hữu đă giữ được thế quân b́nh giữa hai vực thu hút ấy. Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, vừa thức người bằng ư.

“Ai đi Nam Bộ

Tiền Gaing, Hậu Giang

Ai vô thành phố

Hồ Chí Minh

Rực rỡ tên vàng…

Ai về thăm bưng biền Đồng Tháp

Việt Bắc Miền Nam, mồ ma giặc Pháp

Nơi chôn nhau cắt rốn của ta…

Ai đi Nam Ngăi, B́nh Phú, Khánh Hoà”

v.v…

Trong sóng nhạc cuồn cuộn, những ư nổi lên, như đẩy nhạc đi, như giữ nhạc lại. Và chính là cái hơi nhạc đă thức dậy rồi lại phủ lên những ư này. Một đoạn thơ mà chỉ xem thôi th́ không hiểu hết cái hay, pahỉ đọc nó lên, để cho tất cả khả năng của nó biểu hiện ra trong âm nhạc”.

Chế Lan Viên (Trích “Thơ Tố Hữu” – Nghĩ cạnh ḍng thơ”)

c/ “… Nghệ thuật của Nguyễn Đ́nh Chiểu rất gần gũi với văn học dân gian. Ngôn ngữ Nguyễn Đ́nh Chiểu trong văn thơ yêu nước cũng như trong “Lục Vân Tiên” là ngôn ngữ của quần chúng, chữ dùng rất táo bạo và đầy cảm xúc, có khi như c̣n nóng hồi hơi thở của cuộc sống và chất chứa bao nhiêu đau xót, buồn giận, mừng vui: Khi Vân Tiên chiến thắng trở về, cái đám Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Quỳnh Trang và Thế Loan thật là ê trệ. Nhưng Nguyễn Đ́nh Chiểu đă nói rơ mỗi đứa ê trệ một cách. Riêng về Bùi Kiệm, ông viết:

“C̣n ngươi Bùi Kiệm máu dê

Ngồi chề bê mặt như sề thịt trâu”.

Thật chữ dùng khó mà táo bạo hơn và cũng khó mà đúng hơn. Những câu như thế nghe chưa quen th́ có thể chưa thấy hay. Nhưng càng đọc lại càng thấy quư.

Hai câu: “Sự đời thà khuất đôi tṛng thịt,

Ḷng đạo xin tṛn một tấm gương”. (“Ngư Tiều y thuật vấn đáp”)

Có chỗ tôi thấy chép là “đôi tṛng mắt”. Có lẽ v́ người ta sợ nói “tṛng thịt” th́ h́nh như không được thanh nhă. Nhưng chỉ đổi đi một chữ như vậy là cả cái phần đau xót, phần bướng bỉnh trong câu thơ đă mất đi quá nửa.

(…) Sự gắn bó sâu sa với quần chúng là điểm nổi bật trong cuộc đời Nguyễn Đ́nh Chiểu, là nhân tố chủ yếu đă tạo nên con người và sự nghiệp văn thơ của Nguyễn Đ́nh Chiểu. Và cũng chính quần chúng đă hiểu Nguyễn Đ́nh Chiểu hơn ai hết, đă bảo vệ thơ Nguyễn Đ́nh Chiểu cho đến ngày nay”.

Hoài Thanh ( Trích “Nguyễn Đ́nh Chiểu, một nhà thơ lớn, một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam”)

II - Viết lời b́nh cho một tác phẩm văn học

Đă từ lâu, viết lời b́nh cho một tác phẩm văn học đă được nhiều tao nhân mặc khách sử dụng, để lại “trang hoa, tờ hoa” diễm lệ.

Người viết lời b́nh vốn am hiểu sâu sắc từ chương học, lịch lăm cuộc đời và văn chương, lại rất tài hoa. Tác phẩm văn chương có hay th́ người ta mói viết lời b́nh. Những lời b́nh đặc sắc đă dệt gấm thêu hoa cho tác phẩm; cái hay của văn chương như được thăng hoa thấm sâu vào hồn người. Người viết lời b́nh qua sự thẩm b́nh của ḿnh mà hướng dẫn người đọc đi sâu vào nơi sâu kín của tác phẩm để cảm nhận, thưởng thức yêu mến.

Phê b́nh hiện đại c̣n dàn tải, chưa đạt đến chỗ thâm hâu, tinh tế và linh diệu của văn chương. Những bài “giới thiệu sách” đăng tải trên báo, pjhần lớn nhạt nhẽo, vô vị v́ mang tính chất rao hàng!

Những lời b́nh của một số nhà nho trong thế kỷ XIX về “Truyện Kiều”, lời b́nh của Mao Tôn Cương về “Tam quốc chí diễn nghĩa”, lời b́nh của Thánh Thán về Đường thi, về “Hồng lâu mộng”, vừa hay, vừa sâu sắc, đọc lên nghe rất thú vị.

Viết lời b́nh cũng là một kiểu b́nh giảng đặc biẹt. Người viết lời b́nh hay là viết ngắn mà thâu tóm được linh hồn áng văn thơ, khen chê cái hay, cái đẹp của tác phẩm trên những căn cứ thi pháp và quan điểm thẩm mỹ tiến bộ.

Trong bài “Một đôi điều tâm sự trên câu chuyện b́nh thơ” nhà văn Hoài Thanh viết:

“Làm thơ là một cách phát biểu ư kiến, B́nh thơ cũng là một cách phát biểu ư kiến. Không phải chỉ là phát biểu về thơ, mà trước hết là phát biểu về những vấn đề tư tưởng t́nh cảm đang đặt ra trong cuộc sống (…)

Người b́nh thơ không phải muốn nói ǵ th́ nói, phải dựa vào thơ mà nói, không được mượn cớ b́nh thơ để nói những chuyện không có ǵ dính dáng với thơ. Cho nên trước hết là phải t́m hiểu bài thơ, tập thơ cho đúng. T́m hiểu thơ, t́m hiểu người làm thơ, am hiểu hoàn cảnh ra đời của thơ. B́nh thơ đ̣i hỏi phải có cảm xúc, có t́nh cảm nhưng là cảm xúc, t́nh cảm trên cơ sở một sự hiểu biết khoa học, không thể là một thứ cảm tính vu vơ. Điều này khhông dễ nhất là đối với thơ xưa”.

Cũng như kiểu bài Tóm tắt tác phẩm, Giới thiệu tác giả, kiểu bài Viết lời b́nh chưa đề cập đến, chưa được coi trọng thỏa đáng. Chúng tôi hy vọng rằng kiểu bài Viết lời b́nh không chỉ là h́nh thức tập dượt b́nh giảng mà c̣n được đưa vào bài tập ngắn thường xuyên trong quá tŕnh giảng dạy và học tập.

Những lời b́nh - đọc tham khảo

“Vui buồn, tan hợp, mười mấy năm trời, trong cuốn văn tả ra như hệt, không khác ǵ một bức tranh vậy. Xem đến chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi, khúc đàn bạc mệnh gáy xong, mà oán hận vẫn c̣n chưa hả, th́ dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi nhưng lời văn tỏ ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế th́ gọi tên là “Đoạn trường tân thanh” cũng phải.

Ta lúc nhàn đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tó Như Tử dụg tâm đă khổ, tự sự đă khéo, tả cảnh đă hệt, đàm t́nh đă thiết, nếu không phải có cái con mắt trong thấu cả 6 cơi, tấm ḷng nghĩ suốt cả ngh́n đời, th́ tài nào có cái bút lực ấy, bèn vui mà viết bài tựa này”

(Tiên phong Mộng Liên Đường chủ nhân Bùi Kỷ dịch)

Tu thân

Thấy người hay th́ cố mà bắt chước, thấy người dở th́ phải tự xét xem có dở như thế không để mà sửa đổi,

Chính ḿnh có điều hay, th́ phải cố mà giữ lấy, chính ḿnh có điều dở, th́ pahỉ cố mà trừ đi.

Người chê ta, mà chê phải, tức là thầy ta; người khen ta, mà khen phải, tức là bạn ta; c̣n người nịnh hót ta lại là cừu địch, hại ta vậy.

Cho nên người quaan tử trọng thầy, quư bạn và rất ghét cừu địch, thích điều phải mà không chán, nghe lời can mà biết răn… Như thế dù muốn hay không cũng không đạt.

Kẻ tiểu nhân th́ không thế. Cực bậy, mà lại ghét người chê ḿnh; rất dở, mà lại thích người khen ḿnh; bụng da như hổ lang, ăn ở như cầm thú, mà thấy người ta không phục, lại không bằng ḷng; thân với kẻ xiềm nịnh, xa cách kẻ can ngăn, thấy người chính trực th́ cười, thấy người trung tín th́ chê… Như thế th́ dù muốn không dở cũng không được

(Tuân Tử)

* Lời bàn của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, đồng tác giả cuốn sách “Cổ học tinh hoa” rất nổi tiếng, xuất bản từ năm 1925:

“Cái đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà muốn tới cái mục đích ấy, th́ không những là tự ḿnh phải xét ḿnh lạic̣n phải xét cái cách người ở với ḿnh nữa. Đối với người, cần phải biết hai điều: Ai khen, chê phải, khen răn hay, th́ phục, th́ bắt chước: ai chiều ḷng nịnh hot, th́ tránh cho xa, coi như quân cừu địch. “Nên ưa người ta khuyên ḿnh hơn người ta khe minh”, có như thế, ḿnh mới tu thân được”.

* B́nh 2 câu thơ sau của Đỗ Phủ:

“Độc thư pá vạn quyển,

Hạ bút như hữu thần”.

(Đọc sách phá vạn quyển,

Hạ bút (viết) như có thần).

Có người hỏi: “Thơ đă không phải loại kinh điển, cần ǵ phải nêu cái thuyết “Đọc sách phá vạn quyển” của Thiếu Lăng? Vậy th́ người đó không biết rằng ba chữ “phá” và “hữu thần” toàn là phép dạy người đọc sách làm văn đấy. Đó là “phá” quyển sách để tiếp thu lấy cái “thần” của nó, chứ không phải là hoàn toàn nhặt nhạnh cả cặn bă của nó vậy. Tằm ăn lá dâu nhưng nhả ra tơ chứ không phải nhả lá dâu. Ong hút nhuỵ hoa mà gây thành mật chứ không phải gây thành nhuỵ hoa. Đọc sách như ăn cơm vậy, kẻ “khéo ăn”, tinh thần xẽ lớn lê, kẻ “không khéo ăn” sinh ra đờm, bướu”.

Viên Mai (Đời Thanh) (“Tuỳ viên thi thoại”)

* “Thi hữu biệt tài, thi hữu biệt thú”

(Thơ có thể tài riêng, thơ có hứng thú riêng).

“Thơ có thể tài riêng không liên quan đến sách vậy. Thơ có hứng thú riêng, không liên quan tới lư vậy. Nhưng nếu không đọc sách nhiều, không suy nghĩ nhiều, th́ thơ không thể đạt tới chỗ tuyệt đỉnh được. Vậy th́ không bước vào con đường của cái lư, không rơi vào cái rọ của ngôn từ là hay nhất. Thơ là để ngâm vịnh tính t́nh. Những nhà thơ thời Tịh Đường Cchỉ sáng tác khi nào có hứng thú, không đẻ lại một gợn vết nào, tự như con linh dương trên rừng. V́ vậy chỗ thần diệu củ thở họ trong văt lung linh, không thẻ gom vào được, như âm thanh giữa tầng không, như thần sắc nơi h́nh tướng, như bóng trăng in đáy nước, như h́nh ảnh trong mặt gương, lời hết rồi mà ư vẫn vô cùng. Các nhà thơ gần đay chỉ thích kỳ lạ lập di, họ coi vắn tj là thơ, coi tài học là tơ, coi nghị luận là thơ. Có bài không phải là không hay, nhưng khác với thơ của cổ nhân lăm”.

Nghiêm Vũ (đời Tống) (“Thương Quang thi thoại”)

* Kim Vân Kiều là tiếng nói hiểu đời,

Hoa Tiên là tiếng nói răn đời vậy.

“Than ôi! Lấy quốc ngữ làm văn chương, th́ ta chưa dám, nhưng lấy văn chương mà coi quốc ngữ , th́ ta có phần tán thành.

Nước ta từ sau Hàn Thuyên, các tác gia mọc lên như rựng: Ôn Như Hầu làm thơ cổ, cận, khuôn mẫu ngang với Thiếu Lăng. Bằng Quận công đặt điệu cung từ, giọng ruồi không nhường Hán, Nguỵ, đến như văn của truyện khúc đến nay ta được thấy Hoa Tiên và Kim Vân Kiều.

Như vậy, nếu chỉ coi quốc ngữ là quốc ngữ, th́ hai cuốn truyện này không có cũng được, nhưng nếu c̣n cần phải tiến lên t́m cách làm cho rơ thế nào là văn chương của ta, th́ các bạn cùng yêu văn với ta nghĩ sao đây?

Kim Vân Kiều là tiếng nói hiểu đời, Hoa Tiên là tiếng nói răn đời vậy”.

Cao Bá Quát (Trích “Bài tựa truyện Hoa Tiên”)




* Hosted for free by InvisionFree